Cây tre đung đưa trước gió, bóng tre rợp mát đường làng. Nhắc đến loài cây này là chạm vào một phần hồn cốt của người Việt mình. Khác với vẻ cứng cáp của thân tre khi làm đòn gánh hay cọc nhà, vật liệu này khi được vót mỏng chẻ lạt lại mềm mại vô cùng. Dấu ấn đó thể hiện rõ nhất qua chiều dài lịch sử mành tre. Từ tấm phên che nắng vách đất của ông bà ngày xưa, thứ đồ dùng dân dã ấy đã trải qua bao thăng trầm để lột xác thành một sản phẩm có mặt ở khắp các không gian kiến trúc. Hành trình của những tấm mành tre việt nam không chỉ đơn thuần là sự tiến hóa của một vật dụng che mưa che nắng, mà là câu chuyện giữ lửa của những người thợ trân quý cái nghề đan lát.
Thuở sơ khai: Tấm mành tre gắn liền với nếp nhà Việt cổ
Quay ngược thời gian về cái thuở nhà cửa ở nông thôn chủ yếu lợp tranh vách đất, chuyện chống cái nắng gắt hướng Tây hay cản những trận mưa rào tạt vào hiên là nỗi niềm chung của bao gia đình. Hồi đó, người ta làm gì có bạt nilon tiện lợi hay mái che thông minh như bây giờ. Cứ đến mùa nông nhàn, người đàn ông trong nhà lại vác rựa ra bờ tre sau hè đốn vài cây cật già cứng cáp nhất mang về.

Công đoạn xử lý thời xưa hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm truyền tay. Để tre không bị con mọt ăn rỗng ruột, ông bà mình đem nguyên cây dìm xuống ao bùn ngâm ròng rã cả tháng trời. Khi vớt lên, lớp vỏ tre đen nhẻm bùn đất sẽ được cạo sạch, chẻ nhỏ thành từng nan rồi lại gác lên chái bếp hun khói. Lớp bồ hóng bám dính vào từng thớ gỗ tạo ra một lớp màng bảo vệ tự nhiên khiến mối mọt không dám đụng tới.
Tấm mành đan thủ công bằng dây lạt treo trước hiên nhà luôn thoang thoảng cái mùi ngai ngái của khói bếp, mùi của bùn non thân quen. Chiếc mành mộc mạc cứ thế cản nắng, chắn bớt những hạt mưa nặng hạt, che chở cho giấc ngủ trưa hiu hiu gió mát của lũ trẻ con.
Đó là cái gốc của nghề.
Sự hình thành của những làng nghề mành tre trúc nức tiếng
Nhu cầu dùng mành che chắn ngày càng cao theo sự phát triển của xã hội, đặc biệt là khi các ngôi nhà ngói ba gian, năm gian xuất hiện nhiều hơn ở cả Bắc, Trung, Nam. Mành tre không còn dừng lại ở việc nhà ai nấy tự chặt tự đan nữa. Nó bắt đầu được thương mại hóa ở mức sơ khai, dần dần tụ lại thành những làng nghề mành tre nhộn nhịp, quy tụ hàng trăm hộ gia đình cùng lấy việc chẻ nan làm kế sinh nhai chính.

Không khí ở các xóm thợ ngày ấy lúc nào cũng tất bật. Từ tinh sương lất phất sương mù đã nghe tiếng lách cách chẻ lạt, tiếng máy đập dập nan vang vọng khắp xóm nhỏ. Công việc được chia vế rõ ràng. Đàn ông có sức khỏe thì đảm nhận việc cưa ống, chẻ thô, vót nan. Đàn bà, người già và trẻ con thì xúm xít ở khoảnh sân gạch, tay thoăn thoắt xếp nan, luồn chỉ, thắt nút. Bàn tay người thợ nào cũng chai sần, chi chít những vết xước rớm máu do cật tre sắc lẹm vô tình cứa vào.
Những tấm mành thành phẩm thơm mùi tre mới sau đó được cuộn tròn bó lại, chất lên những chiếc xe bò hoặc ghe xuồng mộc mạc, tỏa đi khắp các nẻo chợ quê, cung cấp bóng râm cho biết bao hàng quán, hiên nhà.
Bước ngoặt lịch sử mành tre: Từ thủ công vươn tầm xuất khẩu
Đã có một khoảng thời gian dài, nghề đan mành dường như bị lãng quên và đứng trước bờ vực mai một. Khi xã hội công nghiệp hóa, những tấm rèm bạt xanh đỏ, rèm nhựa, rèm nhôm tràn ngập thị trường với ưu thế giá cực rẻ và che kín bưng. Thợ làm mành lao đao. Nhiều gia đình phải cất đồ nghề, nhiều xưởng đắp chiếu phơi sương vì sản phẩm làm ra không cạnh tranh nổi với hàng công nghiệp.
Nhưng giá trị tự nhiên thì không bao giờ chết.
Khi thế giới bắt đầu thấm đòn từ rác thải nhựa, sợ sự ngột ngạt của vật liệu tổng hợp, xu hướng tìm về kiến trúc xanh quay trở lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đây chính là đòn bẩy vĩ đại đưa nghề đan mành bước sang trang mới: rời lũy tre làng để vươn ra biển lớn. Dẫu vậy, để làm được mảng xuất khẩu mành tre, quy trình sản xuất buộc phải thay đổi tận gốc rễ.
Thay đổi để hội nhập
Anh em làm nghề lâu năm ở các xưởng mành tre hiểu rất rõ luật chơi mới. Nếu cứ giữ khư khư cách làm cũ, hàng đóng container qua đến bến cảng nước bạn nhẹ thì mốc meo do chênh lệch độ ẩm biển, nặng thì mọt ăn rỗng ruột. Khách nước ngoài họ chuộng đồ tự nhiên, nhưng tiêu chuẩn kiểm dịch sinh tễ của họ lại cực kỳ khắt khe. Chúng ta không thể mang một tấm mành sặc mùi khói bếp hay ám bùn ao sang thị trường châu Âu được.
Máy móc bắt đầu thay thế sức người ở những khâu xử lý nguyên liệu. Thay vì ngồi cầm rựa vót tay từng cọng nan tốn thời gian mà độ dày mỏng không đều, xưởng đầu tư dàn máy tuốt nan chuẩn xác đến từng ly. Khâu luộc và ngâm bùn truyền thống cũng được nâng cấp thành hệ thống lò sấy nhiệt rút mùn cưa chuyên dụng. Công nghệ này triệt tiêu hoàn toàn lượng đường dư thừa trong thân cây, đánh bay mọi mầm mống nấm mốc mà vẫn giữ nguyên được màu sắc vàng tươi mộc mạc. Mối mọt tuyệt đường sinh sôi, tấm mành cầm lên tay khô ráo, thơm nhẹ mùi gỗ sấy chứ không còn ám mùi khói bếp khó chịu.
Khách quốc tế yêu gì ở mành tre Việt?
Khách Âu, Mỹ hay Nhật Bản khi cất công bay về tận xưởng kiểm tra hàng, họ soi kỹ từng chi tiết nhỏ. Thú vị ở chỗ, họ không hề đòi hỏi một tấm rèm bóng bẩy, nhẵn thín không tì vết. Ngược lại, khách Tây cực kỳ mê những vết xước mộc, những đốm lấm tấm mọc tự nhiên trên lớp vỏ cật tre. Họ bảo đó là “linh hồn” của vật liệu, là dấu ấn thủ công nguyên bản mà không một cỗ máy dập nhựa tiền tỷ nào có thể sao chép được.
Họ thường tự tay miết dọc theo từng nút thắt dây dù, kiểm tra độ siết của từng khe nan để đánh giá sự tỉ mỉ của người thợ Việt, rồi gật gù tâm đắc rút ví chốt đơn.
Vẻ đẹp mành tre truyền thống trong không gian kiến trúc đương đại
Đi một vòng lớn ra thế giới, giờ đây tấm mành quê lại mạnh mẽ quay về làm đẹp cho chính những không gian hiện đại ngay trên sân nhà. Anh chị sẽ không khó để bắt gặp những bộ rèm tre trúc được thả trần đầy tính nghệ thuật trong các khu resort cao cấp ven biển, hay làm vách ngăn mộc mạc phân chia không gian trong một căn hộ chung cư phong cách Indochine giữa lòng Sài Gòn.

Sự giao thoa giữa nét kiến trúc hiện đại và chất liệu truyền thống tạo nên một sự cân bằng vô cùng dễ chịu. Ở những nơi đó, cái thô ráp, lạnh lẽo của tường gạch bê tông, cốt thép như được xoa dịu bởi màu vàng óng ả và sự thanh thoát của từng nan tre đón gió.
Câu Hỏi Thường Gặp (FAQ)
Làng nghề mành tre nào nổi tiếng nhất Việt Nam?
Dọc dải đất hình chữ S, có rất nhiều cái nôi làm nghề thủ công nổi danh. Ở miền Bắc thường nhắc tới các làng nghề quanh khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú. Vào miền Trung và miền Nam, các tỉnh có diện tích trồng tre trúc lớn cũng hình thành nhiều cụm xưởng đan mành cung cấp cho cả nước.
Mành tre ngày nay khác mành tre xưa ở điểm nào?
Khác biệt lớn nhất nằm ở khâu xử lý nguyên liệu chống mối mọt. Mành xưa dùng cách ngâm bùn, hun khói bếp. Mành nay làm theo tiêu chuẩn cao được luộc kỹ và cho vào lò sấy nhiệt chuyên dụng, kết hợp với các loại dây cước, dây dù chịu lực giúp tăng tuổi thọ sản phẩm lên gấp nhiều lần, đặc biệt khi treo ngoài trời.
Mành tre Việt Nam thường xuất khẩu đi những đâu?
Các thị trường ưa chuộng vật liệu xanh, thân thiện với môi trường như Mỹ, các nước châu Âu, Úc và đặc biệt là Nhật Bản rất yêu thích sản phẩm mành tre của Việt Nam. Họ dùng chúng để trang trí nội thất, che nắng hiên nhà hoặc ứng dụng trong các không gian thiền định, trà đạo.
Đôi lời kết
Lịch sử của nghề làm mành cũng giống hệt như đặc tính của chính cây tre Việt: dẻo dai, bền bỉ và không bao giờ chịu gục ngã trước những biến động của giông bão thời cuộc. Từ những bụi tre mọc ven đường làng, chúng ta đã tạo ra những sản phẩm mang đầy niềm tự hào, góp mặt trong không gian sống toàn cầu.
Hành trình ấy vẫn đang được viết tiếp.
Tập thể xưởng Tre Trúc Vũ Thanh luôn tâm niệm phải giữ gìn cho bằng được cái cốt cách của người thợ nghề, kết hợp hài hòa cùng kỹ thuật máy móc hiện đại để mang đến tận tay khách hàng những sản phẩm bền đẹp nhất. Nếu anh chị có nhu cầu tìm hiểu về các giải pháp che nắng tự nhiên, hoặc cần thi công tre trúc trọn gói cho công trình của mình, đội ngũ thợ lành nghề của chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đo đạc tư vấn tận tình.






